Quy trình tạo sản phẩm Gốm mỹ nghệ Bát Tràng


I. CHỌN ĐẤT:

Điều làm nên nét đặc trưng của Gốm Bát Tràng chính là các sản phẩm Gốm Bát Tràng đều được làm từ đất sét trắng do Bát Tràng chính là mỏ đất sét trắng trước đây. Đến cuối thế kỷ 18, mỏ đất sét trắng tại Bát Tràng đã cạn kiệt nên các lò làm gốm phải khai khác nguồn đất sét trắng từ các vùng khác.

Tuy chất lượng không bằng đất sét trắng của Bát Tràng trước đây nhưng cũng đảm bảo được chất lượng sản phẩm Gốm nên đất sét Trúc Thôn, Hồ Lao, Đông Triều được chọn làm nguồn nguyên liệu chính hiện nay 

Đất sét Trúc Thôn có độ dẻo cao, khó tan trong nước, hạt mịn, màu trắng xám, độ chịu lửa ở khoảng 1650°C. Thành phần hoá học (tính trung bình theo % trọng lượng) của đất sét Trúc Thôn như sau: Al203: 27,07; Si02: 55,87; Fe203 1,2; Na2O 0,7; CaO 2,57; MgO 0,78; K2O: 2,01; Ti02: 0,81. Tuy là loại đất tốt được người thợ gốm Bát Tràng ưa dùng nhưng sét Trúc Thôn cũng có một số hạn chế như chứa hàm lượng ôxít sắt khá cao, độ ngót khi sấy khô lớn và bản thân nó không được trắng.

II, XỬ LÝ VÀ PHA CHẾ ĐẤT

Trong đất nguyên liệu thô thường có lẫn tạp chất, việc xử lý loại bỏ các tạp chất này là bước bắt buộc trước khi thực hiện tiếp các bước khác

Ngoài ra, mỗi loại sản phẩm Gốm sẽ cần phải có những công thức pha chế Gốm phù hợp mới đảm bảo được đặc tính, công dụng và nét đẹp của sản phẩm đó

Phương pháp xử lý và pha chế đất truyền thống của Bát Tràng thường qua 4 bước (sử dụng 4 bể có độ cao khác nhau):

- Bước 1: Đánh đất (sử dụng bể 1 ở vị trí cao nhất:
Đất sét thô sau khi khai thác sẽ được cho vào bể này rồi ngâm nước (ngâm từ 3 - 4 tháng), trong quá trình ngâm, các hạt nguyên thuỷ của đất sét sẽ bị phá vỡ và phân rã/ nát. Sau khi đất chín (các hạt đất sét hoà tan vào nước), người thợ sẽ thực hiện đánh đất bằng cách quất thật đều, thật tơi đất trong nước để đất sét hoàn toàn hoà tan trong nước tạo thành 1 hỗn hợp lỏng 

- Bước 2: Lắng đất/ lọc đất (sử dụng bể 2, đặt ở vị trí thấp hơn bể 1)
Hỗn hợp lỏng ở bể số 1 được truyền vào bể số 2, để 1 thời gian cho đất sét tinh lắng xuống, tạp chất nổi lên (đặc biệt chất hữu cơ), thực hiện việc múc bỏ các tạp chất này

- Bước 3: Phơi đất (sử dụng bể số 3, đặt thấp hơn bể số 2)
Múc hỗn hợp đất sét đã pha loãng ở bể số 2 qua bể số 3 để phơi (thường phơi trong 3 ngày)

- Bước 4: Ủ đất (sử dụng bể số 4)
Sau khi phơi đất trong bể số 3, đất sẽ được chuyển sang bể số 4 để tiến hành ủ. Tại bước này các tạp chất như oxit sắt và 1 số loại khác sẽ bị loại bỏ bằng phương pháp lên men (tức là quá trình vi sinh vật hoá để khử các chất có hại trong đất). Thời gian ủ đất càng lâu càng tốt và tuỳ kinh nghiệm của người thợ làm gốm

Trong quá trình xử lý đất, tuỷ loại sản phẩm mà người thợ làm gốm sẽ thực hiện pha chế thêm cao lanh ở mức độ nhiều ít khác nhau

III. TẠO DÁNG SẢN PHẨM

Theo phương pháp cổ truyền của Bát Tràng, sản phẩm được làm thủ công bằng tay trên bàn xoay, thường phổ biến là "vuốt tay, be chạch" trên bàn xoay. Công đoạn này thường do những người thợ nữ phụ trách. Người thợ ngồi trên 1 cái ghế cao hơn mặt bàn xoay, dùng chân quay bàn xoay trong khi đôi bàn tay vuốt đất và tạo dáng sản phẩm

Phương pháp tạo dáng cổ truyền của người làng Bát Tràng là làm bằng tay trên bàn xoay. Trong khâu tạo dáng, người thợ gốm Bát Tràng sử dụng phổ biến lối "vuốt tay, be chạch" trên bàn xoay, trước đây công việc này thường vẫn do phụ nữ đảm nhiệm. Thợ ngồi trên một cái ghế cao hơn mặt bàn rồi dùng chân quay bàn xoay và tay vuốt đất tạo dáng sản phẩm. Đất trước khi đưa vào bàn xoay được vò cho thật nhuyễn, cuốn thành thoi rồi ném ("bắt nẩy") để thu ngắn lại. Sau đó người ta đặt vào mà giữa bàn xoay, vỗ cho đất dính chặt rồi lai nén và kéo cho đất nhuyễn dẻo mới "đánh cử" đất và "ra hương" chủ yếu bằng hai ngón tay bên phải. Sau quá trình kéo đất bằng tay và bằng sành tới mức cần thiết người thợ sẽ dùng sành dan để định hình sản phẩm. Sản phẩm "xén lợi" và "bắt lợi" xong thì được cắt chân đưa ra đặt vào "bửng". Việc phụ nữ sử dụng bàn xoay vuốt tạo dáng ban đầu của sản phẩm là công việc bình thường phổ biến ở mỗi lò gốm cổ Việt Nam (không chỉ riêng Bát Tràng) nhưng lại rất xa lạ với một số người thợ gốm phương Tây. Tuy thế, kĩ thuật này đã mất dần và hiện nay không còn mấy người thợ gốm Bát Tràng còn có thể làm được công việc này nữa. "Be chạch" cũng là một hình thức vuốt sản phẩm trên bàn xoay nhẹ đà và chủ yếu do thợ đàn ông đảm nhiệm.

     Người thợ "đắp nặn" gốm là người thợ có trình độ kĩ thuật và mĩ thuật cao. Có khi họ đắp nặn một sản phẩm gốm hoàn chỉnh, nhưng cũng có khi họ đắp nặn từng bộ phận riêng rẽ của một sản phẩm và sau đó tiến hành chắp ghép lại. Hiện nay theo yêu cầu sản xuất gốm công nghiệp hay mĩ nghệ, nghệ nhân gốm có thể đắp nặn một sản phẩm mẫu để đổ khuôn thạch cao phục vụ cho việc sản xuất hàng loạt.

     Việc tạo hình sản phẩm gốm theo khuôn in (khuôn thạch cao hay khuôn gỗ) được tiến hành như sau: đặt khuôn giữa bàn xoay, ghim chặt lại, láng lòng khuôn rồi ném mạnh đất in sản phẩm giữa lòng khuôn cho bám chắc chân, vét đất lên lợi vành, quay bàn xoay và kéo cán tới mức cần thiết đề tạo sản phẩm. Ngày nay người làng gốm Bát Tràng sử dụng phổ biến kĩ thuật "đúc" hiện vật. Muốn có hiện vật gốm theo kĩ thuật đúc trước hết phải chế tạo khuôn bằng thạch cao. Khuôn có cấu tạo từ đơn giản đến phức tạp. Loại đơn giản là khuôn hai mang, loại phức tạp thì thường cớ nhiều mang, tuỳ theo hình dáng của sản phẩm định tạo. Cách tạo dáng này trong cùng một lúc có thể tạo ra hàng loạt sản phẩm giống nhau, rất nhanh và giản tiện. Ngoài ra người ta còn dùng phương pháp đổ rót: đổ "hồ thừa" hay "hồ đầy" để tạo dáng sản phẩm.